ần II: Văn Học Phục Hưng- Văn Học Tây Âu Thế Kỷ 14- 15-16

1m ago
83 Views
0 Downloads
256.65 KB
20 Pages
Last View : Today
Last Download : n/a
Upload by : Matteo Vollmer
Transcription

Phần II: Văn học phục hưng- Văn học Tây Âu thế kỷ 1415-16Chương I: Khái quátThời đại phục hưng và phong trào văn hoá phục hưngTrong hai thế kỉ XV và XVI, châu Âu dấy lên cuộc vận động tư tưởng và văn hoámới rất hào hứng, quyết liệt từ trước đến bấy giờ chưa từng có.Thoạt tiên phong trào ấy nổi lên ở đất nước Italia, sau đó lan rộng khắp Tây Âuvà Trung Âu. Người ta gọI phong trào đó là " Renascita ", còn người Pháp gọi là" La Renaissance ", người Anh gọi " The Renaissance ". Những từ ấy đều cónghĩa là tái sinh, phục hưng hay sống lại.Cái gì được phục hưng, sống lại?Một số học giả phương Tây cho rằng phong trào này nhằm làm "sống lại" nềnvăn hoá cổ đại Hi Lạp và La Mã khi đựơc phát hiện qua những văn bản chép tayvà đồ vật khảo cổ khai quật được. Người ta đua nhau đi tìm kiếm di tích hai nềnvăn hoá cổ đó suôt hai thế kỉ XV và XVI. Phong trào học tiếng Latin và Hi Lạp rộlên. Việc dịch thuật giới thiệu những tác phẩm triết học, văn học cổ Hi-La thu hútnhiều người nghiên cứu và nhà xuất bản ở Tây Âu.Thật sai lầm nếu cho rằng mục đích của phong trào Phục Hưng là khôi phục lạinền văn hoá cổ Hi-La, rằng đây là phong trào phục cổ, hoài cổ!Nhờ được tận mắt nhìn ngắm những di tích còn sót lại của hai nền văn minh cổHi-La và tự mình đọc được những tác phẩm (qua nguyên tác hoặc bản dịch),người trí thức Tây Âu đã so sánh với nền văn hoá Trung cổ họ đang sống, họđã rút ra nhận xét quan trọng này: Trung cổ phong kiến và Nhà thờ đã chà đạpthô bạo lên quyền sống và tự do của con người. Họ cảm thấy mình vừa trải quamột đêm trường đen tối suốt nghìn năm. Họ biết rằng Hi Lạp xây dựng đượcnền văn minh rực rỡ như vậy bởi vì không biết đến chế độ phong kiến và khôngphải chịu đựng sự thống trị tinh thần của giáo hội Thiên chúa giáo. Engels viết:"Trong những cuốn sách viết tay còn cúư vớt đựoc sau khi nền văn minhByzance đã sụp đổ, trong những pho tượng thờI cổ đạI khai quật đựoc trongnhững đống hoang tàn ở La Mã, ngưòi ta thấy cả một thế giớI mớI lạ hiện ratrước mắt phưong Tây kinh ngạc - Đó là thờI cổ đạI Hi Lạp, những hình thứcchói loà của nó đánh tan những bóng ma thời trung cổ. (*)*Người ta còn tiến bước mạnh hơn. Nhờ được tận mắt chứng kiến những di tíchcòn sót lại của hai nền văn hóa H-L, học giả phương Tây so sánh và nhận thấynền văn hóa trung cổ mà họ đang sống đã bị chế độ phong kiến và nhà thờ

trung cổ kìm hãm và hơn thế nữa, nó đã chà đạp thô bạo lên quyền sống vàquyền tự do của con người. Họ cảm thấy đang sống trong " đêm trường trungcổ ngàn năm " nay mới thấy ánh sáng. Họ giải thích sự phát triển rực rỡ của HiLạp Lamã là vì không có chế độ phong kiến và nhà thờ Thiên chúa giáo áp bức.Vậy là châu Âu không đi khôi phục lại văn hóa văn minh Hi Lạp La mã, vì đó làsản phẩm của thời công xã thị tộc tan rã và chế độ dân chủ -chủ nô. Lịch sử đilên chứ không quay đầu lại. Vậy " Phục Hưng " nghĩa là làm sống lại nhữngtruyền thống văn hóa tốt đẹp mà Hi Lạp La Mã đã nêu gương để tiếp nối mà giảiquyết những vấn đề tinh thần của thời họ sống - giai đoạn cuối thời trung cổ.1.1. TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ HI LẠP - LA MÃ ĐÃ NÊU GƯƠNG LÀ GÌ?Trân trọng đề cao con người và đấu tranh cho tự do của con người.Hai truyền thống đó đối lập với thời trung cổ coi rẻ, miệt thị con người và chế độchuyên chính, độc tài.Văn hóa Phục Hưng vừa đề cao cổ đại vừa phê phán tố cáo chế độ phong kiếnvà nhà thờ, đồng thờI nói lên nhu cầu và khát vọng của con người mới, trìnhbày biểu dương khả năng và triển vọng của con người mới, xã hội mới. Đó làcon người mà xã hội Phục Hưng đang cần, những con người " khổng lồ ":khổng lồ về tư tưởng, khổng lồ về nhiệt tình và tính cách, về tài năng hiểu biết.(Engels đã so sánh cpon ngưòi mới với nhân vật khổng lồ của thần thoại HiLạp).Quả vậy, văn học Phục Hưng đã sáng tạo ra những người khổng lồ mới. Đó lànhân vật Gargantua, Pantagruel của Rabelais, Othello, Hamlet củaShakespeare. Trong xã hội cũng có những con người khổng lồ thực sự, đó lànghệ sĩ nhà khoa học Leonardo da Vinci, nhà bác học Copecnich phát hiện racấu trúc hệ thống mặt trời. Christoph Colombus tìm ra châu Mĩ.Phong trào văn hóa tư tưởng Phục Hưng đạt nhiều thành tựu làm cho Tây Âubừng thức sau đêm trường trung cổ ngàn năm, thúc đẩy lịch sử phương Tây vàlà bước ngoặt lớn của nhân loại Cần phê phán hai quan điểm sai lầm cho rằng:Phục Hưng là hoa trái cuối mùa của chế độ phong kiến hoặc là sản phẩm đầutiên của giai cấp tư sản mới lên. Thực ra, Phục Hưng là thành tựu của giai đoạnquá độ từ trung cổ phong kiến lên thời cận đại tư bản chủ nghĩa, là bước ngoặtlịch sử của nhân loại do những điều kiện kinh tế chính trị khoa học, xã hội vàvăn học nghệ thuật đương thời đòi hỏi và tạo ra. Nó đã làm biến đổi sâu sắc đờisống tinh thần và vật chất của xã hội Tây Âu, phơi bày sự trì trệ, lạc hậu lỗi thờicủa chế độ phong kiến và nhà thờ trung cổ, tạo đà biến chuyển trên mọi lĩnhvực sang những thế kỉ sau.1.2. BỐI CẢNH CỦA PHONG TRÀO VĂN HÓA PHỤC HƯNGVỀ KINH TẾMiền bắc nước Ý là một trung tâm kinh tế chính trị và văn hóa phát triển sớmnhất ở Tây Âu từ thế kỉ 14, Các quốc gia đô thị như Venice, Jaine, Florence.chứng kiến sự phát đạt công nghiệp thương nghiệp lên cao chưa từng thấy. Mộtnền văn học nghệ thuật mới mẻ phong phú rực rở đơm hoa kết trái, Ý trở thànhcái nôi của văn hóa Phục Hưng. Một số nước như Hà Lan, Bỉ, Luxamburg cũng

hình thành những trung tâm kinh tế văn hóa mới, đặc biệt thủ đô Amsterdam tấpnập trù phú lạ thường.Sau sự kiện Thổ nhĩ kì chiếm đóng thành Constantinop cắt đứt con đường giaothông buôn bán giữa phương Tây và phương Đông, các nước phương Tây phảitìm con đường mới. Những thành công về địa lí như tìm ra đường hàng hảivòng quanh châu Phi và việc tìm ra châu Mĩ đã tạo điều kiện cho giai cấp tư sảnđang lên môi trường hoạt động mới. Họ tiếp tục chiếm lĩnh thị trường Ấn Độ vàTrung Hoa, di dân qua châu Mĩ chiếm thuộc địa, mở rộng buôn bán. Các ngànhthương nghiệp công nghiệp hàng hải phát triển mạnh chưa từng thấy. Phươngthức kinh doanh phường hội phong kiến suy tàn. Các đô thị ven biển trở thànhnhững trung tâm kinh tế tấp nập, ngoài Ý còn có Bacelona, Lisbon, London,Hamburg.Từ Hà Lan tới Anh lần lượt ra đời các tổ chức tài chính gọi là " Sở giao dịch " tiền thân của ngân hàng sau này. Đó là những ngân hàng cỡ quốc tế thời đó.Đến đầu thế kỉ 16, các nghiệp đoàn thương mại quốc gia hình thành, đẩy mạnhviệc buôn bán giữa các lục địa. Các công trường thủ công, xí nghiệp sản xuấtmở mang nhanh chóng thu hút rất nhiều lao động (ngành khai thác mỏ, len da,giấy, nghề in ấn, hàng xa xỉ.). Những sáng chế phát minh khoa học kĩ thuậtđược đem ứng dụng, thúc đẩy sản xuất. Máy hơi nước đưa vào chạy máy cưa,máy nghiền, đập, xát,dệt, kéo sợi. Lò cao và các loại đồng hồ, địa bàn, kínhthiên văn cũng được sáng chế.Nông nghiệp cũng được phát triển đáng kể. Giống mới được trao đổi xuyên lụcđịa. Kĩ thuật thủy lợi phát triển nhờ máy móc. Tăng vụ trồng lương thực. Tuynhiên nông nghiệp vẫn chậm hơn công nghiệp. Các đô thị ngày càng giữ vai tròchủ đạo trong nền kinh tế và đời sống xã hội.Tầng lớp thị dân ngày càng đôngđảo và lớn mạnh, là nguyên nhân sâu xa gây nên nhugn biến động văn hóa.VỀ CHÍNH TRỊChế độ phong kiến phân tán bấy giờ trở thành vật cản con đường phát triển củaTây Âu. Thị dân ủng hộ nhà vua trung ương đập tan các thế lực phong kiến lãnhchúa địa phương để lập nên nhà nước quân chủ thống nhất, nhờ đó các thịtrường cũng thống nhất. Giai cấp quí tộc và tư sản nhờ đó làm giàu lên nhiều.Mâu thuẫn xã hội nổ ra sôi sục giữa các giai cấp (quí tộc cũ - mới, quí tộc - tưsản, nông dân thợ thuyền - tầng lớp thống trị. Cuộc chiến tranh nông dân nướcĐức là điển hình (1524 - 1525). Những cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đấtnước ở Ý liên tục ba thế kỉ, cuộc chiến tranh " Hai hoa hồng " ở Anh kéo dài 30năm, rồi chiến tranh ở Tây ban nha.TÔN GIÁO VÀ TRIẾT HỌCThời Phục Hưng còn xảy ra một phong trào cải cách tôn giáo rộng lớn và sôisục. Nền độc tài tinh thần của giáo hội thiên chúa giáo bị phá vỡ. Phần lớn dânGerman (Đức) rời bỏ giáo hội đi theo đạo Tin Lành. Các dân tộc Latinh hấp thụtư tưởng phê bình tự do, thấm nhuần triết học Hi Lạp, chuẩn bị cho triết học duyvật thế kỉ 18 trở thành triết học cổ điển châu Âu.

Các nhà triết học nhân văn chủ nghĩa hăng hái tấn công vào cơ sở tinh thần vàtư tưởng của phong kiến và nhà thờ trung cổ. Thần học và triết học kinh viện bịhọ đả kích gay gắtNhà triết học Erasme (1467-1536) là người có công lớn gây ảnh hưởng sâurộng ở Tây Au6. Công trình " Ca ngợi sự điên rồ" xuất bản năm 1511 của ôngđã chế giễu sự mê tín với những tín điều ngu ngốc. Nhà triết học vạch trần sựdối trá và dốt nát của bọn triết gia thần học và kinh viện, ông gọi những lí thuyếtcủa họ là " vũng bùn hôi thối ".Những người học trò theo trường phái ông là Buzet (Pháp), Ulfrich Hutten(Đức), Thomas More (Anh).Nhà triết học Bacon (Anh) 1561-1626, người sáng lập ra chủ nghĩa duy vật Anhvà mọi khoa học thực nghiệm hiện đại. Bacon đã nghiêm khắc phê phán triếthọc trung cổ.Ông đòi hỏi triết học chân chính cần phải có tính chất thực tiễn,nghĩa là lí thuyết phải dựa trên sự phân tích những hiện tượng tự nhiên và tàiliệu của kinh nghiệm. Ông cho rằng cảm giác là nguồn gốc của mọi hiểu biết.Những giác quan không thể sai lầm. Khoa học thực nghiệm là dựa trên tài liệudo giác quan cung cấp. Bacon là người đầu tiên xây dựng tỉ mỉ phương phápquy nạp.Điểm xuất phát của nhận thức là mối liên hệ nhân quả, là sự phân tíchnhững vật khác nhau và những hiện tượng khác nhau. Những chân lý đáng tincậy đều phải dựa trên thật nhiều sự việc. Trong khi đối chiếu những sự việc đó,người ta đi từ cái riêng biệt, cá thể tiến tới cái phổ biến và kết luận.Ông coithường phép suy diễn. Tác phẩm chính của ông là cuốn " Công cụ mới "(Novum Organum) - xuất bản 1620 nhằm phân biệt với cuốn " Organon" (Côngcụ) của Aristote. Cuốn thứ hai là " Bàn về nguyên tắc và cơ sở ". Bacon chưaphải một nhà duy vật triệt để, ông muốn hoà hoãn giữa khoa học và tôn giáo.Dẫu sao tư tưởng thực nghiệm và phương pháp quy nập của Bacon cũng gópphần làm công cụ tư tưởng cho phong trào văn hoá Phục Hưng đẩy lui tư tưởngtrung cổ phản động và lạc hậu, sau này Karl Marx nghiên cứu ông rất kỹ và ghicông cho ông.Nhà triết học Campanela viết cuốn " Thành phố mặt trời " (Civitas solis),cùngvới cuốn " Không tưởng " của Thomas More nhằm đòi hỏi mưu cầu hạnh phúccho xã hội bằng cách " bình đẳng về mặt của cải phải được thừa nhận," quyềntư hữu phải được xoá bỏ ". Hai ông, do sự hạn chế của lịch sử, mới vẽ ra đượccái viễn cảnh ước mơ không thể thực hiện. Do đó cuối cùng phong trào Phụchưng thất vọng vì không tìm thấy giải pháp khả thi để cải cách cuộc sống xã hội,khiến nhiều người rơi vào sự bi quan sâu sắc.Các nhà nghệ sĩ tạo hình như Lonardo Da Vinci. Mikellangelo, Raphael.cũngdùng cây bút vẽ và màu sắc để sáng tạo những hình tượng Phục hưng, từ hìnhtượng thánh thần mang hình hài con người trần tục đến những hình tượng conngười bình dị mang những vẻ đẹp giản dị không mấy ai ngờ. Tranh tượng khoảthân thời kì này mặc sức phô diễn vẻ đẹp của con người trong một cảm hứng tựhào, yêu thương đến gần như thiêng liêng, ta thường gọi là " cảm xúc thánhthiện ".

Trong bối cảnh đó, văn học nghệ thuật Phục Hưng nở hoa kết trái tưng bừng.Chủ nghĩa nhân văn là trào lưu tư tưởng văn hóa của phong tràovăn nghệ phục hưngTrào lưu tư tưởng nhân văn chủ nghĩa là sản phẩm tinh thần chung đúc khátvọng và yêu cầu muốn tự giải phóng của con người thời đại thoát khỏi xiềngxích trung cổ phong kiến và nhà thờ. Chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng bắt đầu từnguồn gốc chủ nghĩa nhân văn trong văn học nghệ thuật cổ đại Hi Lạp (truyệnthần thoại, sử thi, những bức tượng lực sĩ đẹp của Phidias, những lâu đài côngtrình huy hoàng còn sót lại. đều trình bày những vẻ đẹp sáng ngời của conngười tự do dám chống lại thiên nhiên khắc nghiệt và xã hội áp bức)." Con người là kiểu mẫu và kích thước để đo lường vạn vật ". Những gì chốnglại con người đều bị chủ nghĩa nhân văn lên án. Nó ca ngợi đề cao quyền sốngtự nhiên của con người, đặc biệt là quyền tự do cá nhân. Chế độ phong kiến vànhà thờ trung cổ truyền bá nhân sinh quan nghiệt ngã đen tối. Họ chỉ đề caonhững " ông thánh", sống giữa cõi đời mà coi thường mọi lạc thú vật chất và thểxác, chỉ biết chăm lo tu dưỡng đức tin. Mỗi lời nói của họ được coi là " khuônvàng thước ngọc " -giáo điều của một thời. Chủ nghĩa diệt dục, khổ hạnh đượcrao giảng. Dục vọng bình thường của con người bị bôi bác như loài vật. Raogiảng như vậy nhưng giai cấp phong kiến và tăng lữ vẫn mặc sức hưởng lạcphè phỡn ăn chơi sa đọa hơn ai hết.Những nhà văn Phục Hưng viết để chống lại thứ nhân sinh quan phản tự nhiênấy, đòi cho con người những quyền sống tự nhiên, tự do ngay ở cõi trần gian.Họ là Dante, Petraque, Boccassio (Ý), Ronsa, Rabelais (Pháp), Lope de Vega,Cervantes (Tây ban nha) và Shakespeare (Anh).Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa nhân văn ngày càng hoàn thiện dần, nộidung chiến đấu ngày càng cao. Thần học, triết lí kinh viện bị nó đả kích gay gắt.Các nhà văn, nhà viết kịch Phục Hưng tiếp tục chôn vùi uy thế phong kiến vànhà thờ, truyền bá thế giới quan tiến bộ, đề cao Con Người viết hoa (ý nóikhông phải con.vật) là trung tâm của vũ trụ, con người có tất cả nhu cầu khátvọng chính đáng, khả năng và trí tuệ to lớn.Nhà thơ Shakespeare đã viết:Kì diệu thay con người!Con người cao quí làm sao về lí trí, vô tận làm sao về năng khiếu. Hình dung vàdáng vóc nó đẹp tựa thiên thần. Trí tuệ nó có thể sánh với thượng đế. Thật là vẻđẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài! (kịch Hamlet, hồi II cảnh 2).Tự Nhiên được suy tôn là " bà mẹ vĩ đại ", sống tuân theo tự nhiên thì sẽ đạtđược " cái đẹp ", " sự hài hòa ", chống lại tự nhiên sẽ khô héo, rối loạn. Hìnhthành triết lí tự nhiên.(Ngày nay chúng ta thấy rằng muốn đạt được chủ nghĩanhân văn hoàn chỉnh thì phải thủ tiêu mọi nguồn gốc đẻ ra áp bức bóc lột). Thờiđại Phục Hưng mới chỉ là thời kì quá độ từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tưbản, thay đổi từ kiểu áp bức này sang kiểu khác. Do đó, chủ nghĩa nhân văn

càng về sau càng bế tắc, không thể phát triển và biến thành hiện thực. Chỉ cóhiện thực phũ phàng, nhân dân bấy giờ bị hai tròng áp bức bóc lột - phong kiếnvà tư bản. Cuối phong trào Phục Hưng, những tác phẩm bộc lộ nỗi hoài nghi biquan chen vào, nhiều nhà văn xuất thân phong kiến quí tộc hoặc tư sản trở nênbế tắc, ngỡ ngàng, dao động, mất phương hướng. Cuối cùng khuynh hướngvăn học tư sản thắng thế vì có giai cấp tư sản bảo đảm cho họNét đặc trưng của văn học tư sản là ca ngợi con người " hoàn toàn tự do ",được giải phóng khỏi mọi xiềng xích phong kiến. Nó đập phá không thương tiếcThần học và Triết học kinh viện, lên án gay gắt luân lí đạo đức phong kiến (tuyrằng có chút cách quá đáng), biểu dương ca tụng sự sáng tạo, ý chí vươn lênlàm chủ thiên nhiên xã hội và bản thân. Khuynh hướng này bộc lộ nhược điểmkhá nguy hại là say sưa ca ngợi khoái cảm vật chất và xác thịt, giải phóng bảnnăng sinh lí (Rabelais, Cervantes và cả hài kịch Shakespeare).Chúng ta chống lại chủ nghĩa khổ hạnh cấm dục nhưng cũng chống lại thứ chủnghĩa tự do bừa bãi theo nhân sinh quan tư sản (đến tận ngày nay vẫn còn tồntại và reo rắc lối sống này). Các nhà nhân văn chủ nghĩa chân chính thời PhụcHưng không có tư tưởng cực đoan bừa bãi như vậy!Mặc dầu còn những nét tiêu cực, chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng vẫn là mộtcống hiến lớn lao cho lịch sử tư tưởng và văn hóa của loài người. Nó đã gópphần tích cực đấu tranh giải phóng con người ra khỏi chế độ phong kiến trungcổ và mở đường cho các xã hội Tây Âu tiến lên

Chương II: Văn học phục hưng Italia, Pháp, Tây Ban NhaITALIA những ngọn gió đầu tiênQUÊ HƯƠNG CỦA VĂN NGHỆ PHỤC HƯNG là vùng Bắc Ý nơi có các đô thịlớn như Venise, Jaine, Milan, Florence. Nơi đây kinh tế trù phú phát triển mạnhmẽ. Dân đô thị ngày càng có ý thức về vai trò địa vị của mình. Tinh thần hoạtđộng làm giàu trở nên đức tính tốt. Họ đòi hỏi được tự do phát triển mọi khảnăng và thỏa mãn mọi ham muốn. Luồng tư tưởng mới mẻ chống ý thức hệphong kiến và nhà thờ đã khơi nguồn cho trào lưu nhân văn chủ nghĩa tuônchảyVinh quang mở đầu phong trào văn nghệ Phục Hưng Ý thuộc về nhà thơDANTE - nhà thơ cuối cùng thời Trung cổ và thi sĩ đầu tiên của Phục Hưng. Tuycòn ảnh hưởng thế giới quan nhà thờ thần bí nhưng tác phẩm của ông đã ánhlên cảm quan mới của thời đại.Tác phẩm tiêu biểu của ông là " Thần Khúc " (nguyên văn là Divinascomedia)viết bằng tiếng Ý, 100 khúc với 14226 câu thơ. Gồm bốn phần: Khúc mở đầu /Địa ngục / Luyện ngục / Thiên đường. Tóm tắt cốt truyện như sau:Nhân vật Dante khi đã sống được nửa đời người một hôm ông lạc bước vàokhu rừng rậm (chỉ tình trạng tội lỗi của người đời). Ba con thú dữ xông tới cảnđường (báo, sư tử và chó sói: ba thói xấu kiêu căng, ghen tỵ và keo kiệt). Maysao từ trên thiên đường, nàng Beatrice vốn là người yêu đã quá cố của Danteđã gọi nhà thơ Virgile - người mà Dante suy tôn bậc thầy - đến cứu Dantethoátra.Virgile dẫn Dante đi tham quan Địa Ngục, cảnh tượng âm u rùng rợn chín tầng.Vạc dầu sôi, lửa cháy ngun ngút, tội nhân bị gặm đầu, ngụp lặn trong bể máu.Đủ mọi loại người ở trần gian chưa được rửa tội. Có một cặp tội nhân được nhàthơ thông cảm xót xa - họ là chị dâu em chồng yêu nhau vụng trộm. Những kẻphản bội tổ quốc rước giặc về giày xéo quê hương thì ông nguyền rủa, trong đócó cả Giáo hoàng Boniphace VIII. Tiếp đó Virgile dẫn Dante đi thăm Luyện Ngụcgồm 7 bậc, nơi đây yên tĩnh giúp người ăn năn hối cải, tẩy rửa lỗi lầm. Họ làdanh nhân văn nghệ sĩ triết gia anh hùng quá khứ là những người có công vớitổ quốc, loài người. Họ sắp rời khỏi đây lên thiên đường cực lạc chan hòa ánhsáng.Nhưng khi qua khỏi Luyện Ngục, Virgile từ giã Dante vì ông là người dị giáokhông lên được thiên đường. Nàng Beatrice lại xuất hiện trong ánh hào quangrực rỡ màu áo đỏ tươi, tấm khăn trắng trên đầu buông xuống cùng những cànhnguyệt quế. nàng nhắc lại tình xưa nghĩa cũ, trách móc Virgile nặng nề nhưngthật đáng yêu:

" Một thời tôi đã lấy dung nhan nâng đỡ cho chàngđôi mắt tơ xuân tôi để chàng ngắmvà tôi dắt chàng cùng tôi thẳng tiếnbuồn thay vừa bước chân vào tuổi trưởng thànhtôi bỏ cuộc đời sang cõi trường sinhchàng quên tôi, buông mình vào tay kẻ khácTrả lời đi, nói đi cho mọi người biếtChàng vô cùng đáng trách "Dante cũng không nén nổi xúc động:" Tình yêu ơi, em cứ thì thầm trong trái tim ta "Sau đó Beatrice đưa nhà thơ Dante lên cõi thiên đường, ông chiêm ngưỡngngây ngất hình ảnh Chúa Cứu Thế, lòng trào dâng niềm tin tưởng.Đằng sau những quan niệm tôn giáo thần bí về ba thế giới (Địa ngục, Luyệnngục, Thiên đường) vốn là bút pháp tượng trưng, ẩn dụ quen thuộc thời trungcổ, chúng ta nhìn thấy hiện thực với nhiều ý nghĩa và quan niệm mới mẻ về tìnhyêu, báo hiệu mùa xuân thi ca mới. Đó là niềm tin vào con người có trí thôngminh và lòng dũng cảm. Dante say sưa ca ngợi anh hùng cổ đại Odyssee bônba đi tìm những bến bờ xa lạ. Ca ngợi những triết gia, nghệ sĩ Hi Lạp đem lạibao hiểu biết và xúc cảm cho loài người.Hình tượng Virgile tượng trưng cho lí trí thì nàng Beatrice tượng trưng cho tìnhyêu và cái đẹp. Cuộc hành trình của nhà thơ Dante được dẫn dắt bởi hai nguồntinh hoa ấy. Nhà thơ đi tới đâu? Đến với hình ảnh Chúa Cứu Thế tượng trưngcho Chân -Thiện - Mỹ chứ chẳng phải đấng siêu hình nào.Chẳng phải ngẫu nhiên nàng Beatrice có mặt từ đầu đến cuối cuộc đời nhà thơ.Ngay ở thiên đường nàng vẫn tiếc thương mối tình trần thế. Nàng là ân sủngtình yêu mãi mãi dành cho nhà thơ. Nhà triết học cổ điển Đức Hegel đã nhậnxét thật đúng: " Dante nhờ tình yêu của Beatrice mà trở thành bất tử. Tình yêuđược hoán cải biến thành tình yêu mới có tính tôn giáo không dục vọng " (Mĩhọc - Hegel).Nhà thơ Dante đã đóng vai trò quan tòa khi ông đưa kẻ này xuống địa ngục,người khác lên thiên đàng theo chuẩn mực mới của chủ nghĩa nhân văn PhụcHưng.Nhà thơ Pétraque (1304-1374)Tác phẩm tiêu biểu là Ca Khúc (Canzonie). Tập thơ tình yêu nói về mối tình củaông với nàng Lora. Chịu ảnh hưởng của Dante, nhưng ông không ca ngợi một"nàng tiên " mà miêu tả ca ngợi một Lora bình thường sống giữa người trần,nàng hiện lên sinh động. Những mong đợi buồn tủi, khổ đau nhưng đó chính làtình yêu thực sự.

Ngoài thơ tình, Petraque còn làm thơ về triết học, chính trị, như bài " Nước Italiacủa tôi", " Tâm hồn cao cả ". Thơ ông có tác động mạnh đến quần chúng nhândân trong công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước Italia.Truyện " Mười ngày" của Boccacio (1313-1375)Boccacio là nhà bác học nhân văn chủ nghĩa, ông say mê và am hiểu văn hoácổ Hi Lạp La mã. Tác phẩm tự truyện "Phiammeta". Truyện kể dựa trên mối tìnhcủa ông với công chúa Phiammeta.Nàng yêu ông bắt nguồn từ quí mến tài năngông, nhưng gia đình ông là thương nhân địa vị xã hội thấp nên cuộc tình duyênđã tan vỡ. Đau buồn, ông viết truyện để hả giận. Boccacio xây dựng nhân vậtPamphilo để cho nhân vật này bỏ rơi nàng Phiammeta.Tác phẩm bất tử của Boccacio là Decameron (Mười ngày).Truyên kể bảy cô gái(trong đó có một cô tên Phiammeta) và ba chàng trai (có nhân vật Pamphilo)đều là con nhà quí tộc rủ nhau đến ở một lâu đài ở ngoại thành phố Florence đểtránh bệnh dịch hạch. Họ chuyện trò, dạo chơi, để quên đi cái chết đang đe doạthành phố. Mỗi ngày họ bầu một người làm vua hoặc hoàng hậu để điều khiểncuộc vui chơi. Kể chuyện là trò thú vị nhất. Mỗi ngày họ lần lượt kể 10 câuchuyện. Sau mười ngày được 100 câu chuyện. Hết mười ngày thì nạn dịchhạch chấm dứt, họ lại quay về thành Florence.Tác giả nói rằng ông viết truyện này để mua vui cho nữ giới vì họ là phái Đẹp vàtình yêu của họ là ý nghĩa của cuộc sống trần thế này.Truyện Mười ngày cổ vũ tinh thần ham sống, yêu đời, chống lại quan điểm tôngiáo khổ hạnh cho rằng cuộc đời là tạm thời,vật chất thể xác là đáng khinh bỉ.Truyện vang lên tiếng cười giòn giã chế giễu, đả kích đạo đức luân lí phong kiếnvà nhà thờ và học thuật của họ. Thầy tu, quí tộc và triết gia thần học kinh việnđều bị đem ra làm trò cười, bị vạch chân tướng là những kẻ đạo đức giả, tráctáng dâm ô bịp bợm. Tác giả đồng tình cổ vũ những mối tình tự do bất chấpkhác nhau về đẳng cấp, địa vị, kể cả thú vui tình yêu thể xác tự nhiên. Nhà văncòn dành thiện cảm và khích lệ cho giới thị dân và thương nhân - những lớpngười tiến bộ của thời đại.Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, chủ đề phong phú đa dạng của Boccacio khiếnDecameron được coi là tác phẩm xuất sắc của Italia, mở đường cho truyệnngắn và tiểu thuyết châu Âu. Từ đây phương pháp hiện thực đã được chú ý vàkhẳng định. Mục tiêu chính là truyền bá tư tưởng nhân văn Phục Hưng nhưngông còn chú ý miêu tả quang cảnh đất nước Italia từ thị thành đến làng quê đủmàu sắc.Hàng trăm kiểu nhân vật đa dạng từ mọi tầng lớp xã hội Italia hiện rasinh động, tất thảy đều thể hiện tâm tư khát vọng sống cùng thời đại.Giai đoạn kế tiếp, văn nghệ thiên về dịch thuật tác phẩm cổ Hi, bên cạnh thơ ca,nghệ thuật tạo hihn2 nổi lên với những nghệ sĩ thiên tài như Leonardo da Vinci,Mikellange và Raphael.Cuối phong trào, văn hoá Tây ban nha cùng với sự cai trị của đế quốc Tây BanNha vượt lên lấn át khiến cho văn hoá phục Hưng Italia tàn lụi dần. Giai đoạnnày gọi là " hậu kì Phục Hưng ".

GVăn học Pháp - một mùa hoa trái tưng bừngVăn nghệ Phục Hưng Pháp ra đời muộn hơn Ý. Mãi sau cuộc chiến tranh Anh Pháp kéo dài 100 năm (1337 - 1453) chấm dứt, Pháp mới rảnh tay xây dựng lạiđất nước và đi vào Phục Hưng.Nửa đầu thế kỉ XV, các lãnh chúa củng cố vương quyền, xây dựng kinh tế. Cuốithế kỉ, nước Pháp trở thành quốc gia thống nhất về chính trị và kinh tế. vuaLouis XI được tư sản ủng hộ, khuyến khích thuơng mại, sửa sang đường giaothông thủy bộ, tổ chức bưu điện, chợ búa, hội chợ, đẩy mạnh ngoại thương vớicác nước ven bờ Địa Trung hải và bắc Âu. Nửa đầu thế kỉ XVI, Pháp bắt đầubành trướng thế lực. Dưới các triều vua Charles VII, Louis XII, Francoise I,Henri II, Pháp mở nhiều chiến dịch xâm lược Ý, giành giật với Anh và Tây BanNha. Chiến tranh khiến cho nước Pháp thiệt hại, kinh tế tài chính kiệt quệ, anninh chính trị bất ổn, nội chiến tôn giáo bùng lên.Điều đáng kể là do tiếp xúc với Ý, Pháp phát hiện ra nển văn hóa cổ đại Hi Lạpvà La Mã với nguyên dạng của nó. Nhiều nhà bác học Hi Lạp được mời sangPháp. Những người quí tộc Pháp thức thời đóng vai trò quyết định gây nênphong trào văn hóa Phục Hưng ở xứ sở này. Đó là tầng lớp quí tộc tiến bộPháp, trong đó có hai anh em nhà vua Francoise và em gái đã phất lên ngọn cờnhân văn chủ nghĩa.2.1. Thành tựu của thể loại truyện:Truyện là thể loại có những thành công đáng kể. Nó phản ánh khá trung thànhhiện thực nước Pháp thế kỉ XVI: mâu thuẫn xã hội gay gắt, giai cấp thống trị sađọa (quí tộc hống hách, ăn chơi, tăng lữ hợm hĩnh, dốt nát), những lo toan khátvọng của dân chúng, niềm vui và nỗi đau khổ, tội ác và đạo đức đều được ghilại. Ba cây bút xuất sắc là Margerite Danguleme, Bonaventue và Noel du Fale.Marguerite D’Angouleme là em gái vua Francoise I. Sau khi góa chồng, bà táigiá với vua xứ Navare (thuộc Pháp). Là phụ nữ thông thái nhất thời bấy giờ, bàthông thạo các thứ tiếng chủ yếu ở châu Âu (Hi Lạp, Latin, Ý, Anh, Do thái, TâyBan Nha, Đức). Bà làm thơ và viết kịch ; nổi tiếng là nhờ tập truyện " Truyện bảyngày " bắt chước kết cấu " truyện mười ngày " của Boccassio (Ý), nhưng phầnsáng tạo nội dung rất độc đáo.Do xuất thân chốn cung đình, Margerite hiểu rõđời sống quí tộc. Là một phụ nữ thông minh nhạy cảm bà tiếp nhận luồng giómới nhân văn chủ nghĩa (thổi lên từ đất Ý)v ới niềm phấn khích, say sưa. Tácphẩm của bà toát lên khát khao hạnh phúc tình yêu. Bà tỏ ra hoài nghi nền đạođức trung cổ dối trá, châm biếm lũ quí tộc tầm thường và thầy tu giả hiệu. Văncủa bà đôi khi bộc lộ nỗi khát khao xác thịt. Bà nổi tiếng là cây bút nữ kể chuyệntáo bạo, hấp dẫn hiếm có trên văn đàn.2.2. Thơ ca:

Lúc đầu, nhà thơ Clement Marot được coi là nổi tiếng nhất với tập thơ: " ĐịaNgục ". Tập thơ tố cáo thói cuồng tín, chủ nghĩa ngu dân của trường đại họcSorbone, lên án pháp luật đương thời, bọn quan tòa và những tệ nạn do luậtpháp phong kiến gây ra.Pierre de Ronsard là nhà thơ quí tộc, được nhà vua che chở, công danh rộngmở. Sau một trận ốm bị điếc, nhà thơ thất vọng quay ra làm thơ. Nổi tiếng là cáctập thơ tình yêu, nhất là tập Sonnet gửi Helene với cảm hứng say mê cổ đại vàPhục Hưng Ý. Ronsard là nhà thơ của hạnh phúc và tình yêu trần gian, củathiên nhiên và lòng yêu nước. Ông cùng với Du Bellay lập ra trường phái thơ LaPleiat.Joachim Du Bellay (1522-1560) là người viết bản tuyên ngôn của thi phái LaPleiat " bảo vệ và làm giàu cho tiếng Pháp ". Lúc đó, ở nước Pháp, tiếng Latinvẫn là ngôn ngữ chính thống, sự ra đời của bản tuyên ngôn đó là cái mốc quantrọng của nền văn hóa Pháp. Bản tuyên ngôn thể hiện ý chí thống nhất nướcPháp, là quyết tâm, hoài bão của trí thức văn nghệ sĩ muốn sáng tạo một nềnvăn hóa dân tộc có thể sánh ngang ngôn ngữ văn hóa Hi La cổ đại. Bảy nhà thơtiêu biểu hợp thành thi phái, tập thơ " Luyến tiếc " Regrets) của Du Bellay nổitiếng hơn cả.Còn hai dòng thơ khác chứa đựng nhiều hương vị. Dòng thơ Lyon của tầng lớpthị dân đông đảo khát khao cuộc sống thế tục và nền văn hóa mới. Dòng thơ nộichiến tôn giáo nổi lê hai giọng thơ bi tráng đau lòng vì cảnh huynh đệ tương tàn,đẫm máu đẩy nước Pháp trở lại cảnh chia sẻ lãnh thổ. Các bài thơ đều hàm ýchỉ trích đạo thiên chúa ỷ thế mạnh hơn tranh giành dịa vị để " giằng lấy bầusữa của đất mẹ mà uống một mình ".2.3. Nhà văn Rabelais (1494-1553) và bộ tiểu thuyết " Gargantua &Pantagruel"Francoise Rabelaise (đọc:Ra -bơ - le) là nhà tiểu thuyết và nhà bác học, sinh vậthọc, bác sĩ y khoa, luật gia nhà thiên văn học, thông thạo cả sáu ngoại ngữquen thuộc ở Tây Âu. Học trường dòng, trở thành tu sĩ nhưng Rabelaise sớmchán ngán cuộc sống tu hành. Bị quở phạt, anh cởi bỏ áo tu sĩ đi đây đó lẩntránh gia đình và bề trên. Anh say mê nghiên cứu cổ đại và ưa giao du với cácnhà tri thức nhân văn chủ nghĩa. Trở lại học luật, xong đi Paris học y khoa. Đilàm thầy thuốc ở Lyon và viết tiểu thuyết. Xuất bản cuốn Gargantua Cuốn này bịtrung tâm thần học Sorbone lên án. Rabelais bèn xin đi theo Hồng Y Giáo chủJean Due Bele sang La mã cầu cứu. Năm sau cuốn Pantagruen tiếp nối cuốnkia ra đời (tập 2), lại bị đại học Sorbone lên án, tác giả phải chạy sang La mã,được giáo hoàng công bố miễn tội.Năm 1545 được phép vua, ông xuất bản " Cuốn thứ ba " kí tên thật, lại bị lên án.Năm 1552 xuất bản " Cuốn thứ tư " vẫn bị đại học Sorbone phản kích gay gắt."Cuốn thứ năm " được xuất bản sau khi tác giả qua đời năm 1554.Ngoài bộ tiểu thuyết năm cuốn, Rabelais còn viết sách y học và khảo cổ học.Rabelais là một trong những " người khổng lồ " của văn học Phục Hưng Tây Âu.Tóm lược nội dung 5 tác phẩm:

GARGANTUA - CUỐN 1Gargantua là cậu bé con của một lãnh chúa vùng. Cậu bé khổng lồ vừa lọt lòngmẹ đã cất tiếng đòi ăn uống. Phải vắt sữa 176913 con bò mới đủ cho nó thỏacơn khát đầu tiên. Lớn lên, theo học thầy tu Tuban. Cậu bé trở nên ngớ ngẩnbởi ông thầy nhồi nhét hàng lô kiến thức " chết " (kinh viện, thần học). Cha cậugởi con đi học ở Paris. Trên đường đi, đuôi ngựa cậu quật nát cả một khu rừng.Vừa đến Paris,Gargantua lấy ngay chuông nhà thờ Đức Bà treo lên cổ ngựa đichơi.Đại học Sorbone cử một ông thầy ra điều đình với cậu, ông nói một tràngtiếng Latinh, mọi người cười lăn vì chẳng ai hiểu gì cả.Giáo sư của cậu bé là thầy Ponocrates, thầy áp dụng thí điểm một chương trìnhvà phương pháp dạy học mới nhằm phát triển con người toàn diện: trí đức thểmĩ, lại có lao động chân tay, học nghể, đi tham quan sản xuất, công trường, đidã ngoại cỏ cây. Phương pháp mới là hướng dẫn học trò quan sát tự rút ra kếtluận, gợi hứng thú cho học trò nghiên cứu.Gargantua đang say mê học tập thì có thư cha gọi về chống giặc xâm lược.Thời chiến tranh, các tu sĩ chỉ biết đóng cửa lo cầu nguyện. Riêng có một thầytu dũng cảm ra trận diệt được nhiều giặc. Hoàng tử Gargantua thưởng công chothầy: xây một tu viện mới tên là Theleme giao cho thầy phụ trách. Tu viện có quichế mới lạ: con trai từ 12 đến 18 tuổi, con gái từ 10 - 18 đều được tự do vàohọc. Một khẩu hiệu lớn treo trước cổng: " Muốn làm gì thì làm ". Trai gái tự dosống theo theo sở thích, vui chơi thả cửa tự do yêu đương, chừng nào chán tuviện thì bỏ đi.PATAGRUEN - CUỐN 2Gargantua cưới vợ, sinh con trai. Đứa bé tên Pantagruen, mẹ nó chết sau khisinh đẻ. Trước nôi con và xác vợ, Gargantua suy nghĩ hồi lâu không biết nênkhóc hay n

Phần II: Văn học phục hưng- Văn học Tây Âu thế kỷ 14- 15-16 Chương I: Khái quát Thời đại phục hưng và phong trào văn hoá phục hưng Trong hai thế kỉ XV và XVI, châu Âu dấy lên cuộc vận động tư tưởng và văn hoá mới rấ